Với quy mô dân số khoảng 100 triệu dân và tăng trưởng GDP hàng năm đạt 7%, Việt Nam dự báo công suất phát điện phải tăng từ mức khoảng 47.000 MW hiện nay lên 60.000 MW vào năm 2020 và 129.500 MW vào năm 2030.

Để đạt được những mục tiêu này, ngành điện của Việt Nam cần phải nâng công suất lên cao hơn tổng công suất phát điện hiện có của Thái Lan vào năm 2025. Thậm chí, quy mô ngành điện có thể sẽ lớn hơn của nước Anh vào giữa những năm 2020.

Cánh cửa cho năng lượng tái tạo

Năng lượng tái tạo bắt đầu được nhắc tới trong PDP 7 sửa đổi được ban hành vào năm 2016 nhờ giá rẻ hơn. Giới phân tích dự đoán PDP 8, được ban hành vào cuối năm nay, sẽ tiếp tục điều chỉnh chính sách về ngành điện.

Trong bối cảnh tình trạng ô nhiễm gia tăng, Bộ Công Thương bắt đầu hiến kế cho phát triển năng lượng tái tạo - một phân khúc đóng vai trò rất nhỏ trong ngành năng lượng của Việt Nam.

“Một trong những ưu tiên của Việt Nam là phát triển nguồn năng lượng tái tạo để dần giảm bớt sự phụ thuộc vào các nguồn phát điện truyền thống, nhằm bảo vệ môi trường”, Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng phát biểu hồi đầu tháng 5.

Theo một dự thảo luật cho tháng 6, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) sẽ trả cho các dự án điện mặt trời khoảng 6,67 - 10,87 UScent/kWh. “Năng lượng mặt trời rất được quan tâm vì giá bán điện mặt trời đang ở mức cao”, ông Dieter Billen tại công ty tư vấn Roland Berger cho biết.

Một trong những nhà phát triển đầu tiên thâm nhập vào lĩnh vực điện mặt trời của Việt Nam là Gulf Energy của Thái Lan. Năm 2018, công ty này đầu tư vào một số dự án dài hạn nhằm lợi dụng thời điểm giá bán điện mặt trời đang ở mức cao.

Ông Billen bổ sung, nhờ giá bán hấp dẫn khoảng 8,5 UScent/kWh trên đất liền và 9,8 UScent/kWh ở ngoài biển nên năng lượng gió cũng ngày càng được quan tâm.

Nếu Chính phủ tiếp tục ban hành chính sách hỗ trợ năng lượng tái tạo, đồng thời điện gió và điện mặt trời ngày càng rẻ hơn và chất lượng hơn, năng lượng tái tạo sẽ thay thế than, trở thành nguồn phát điện lớn nhất Việt Nam vào năm 2030, ông Billen dự đoán.

“Việt Nam là một quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, vì vậy họ sẽ cần phải tăng công suất phát điện càng nhanh càng tốt với mức chi phí hợp lý”, ông Pat Markey, Giám đốc công ty tư vấn hàng hóa Sierra Vista Resources,cho biết.

Than vẫn là “vua”

Từng phụ thuộc lớn vào thủy điện, Việt Nam dần chuyển sang dùng than để tăng công suất phát điện vì vật liệu này khá rẻ. Nhu cầu tiêu thụ than trong 5 năm tính đến năm 2017 tăng 75%, nhanh hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, theo số liệu của trung tâm nghiên cứu về tro thuộc Viện Harvard Kennedy.

Quy hoạch Phát triển Điện (PDP 7) hiện nay cũng đặt trọng tâm vào nhiệt điện than để đáp ứng nhu cầu mới. Với công suất phát điện được dự báo gấp đôi, PDP 7 dự đoán nhiệt điện than sẽ tăng nhanh tới năm 2030, với thị phần tăng từ 33% hiện tại lên 56%.

Ông Markey của công ty Sierra Vista dự đoán công suất phát điện của các dự án nhiệt điện than trong mạng lưới hiện có của Việt Nam sẽ tăng thêm 2,7 GW vào năm 2020. Hiện công suất của các nhà máy này là 15 GW.

Trong khi đó, tiêu thụ điện đã đạt kỷ lục 36.000 MW trong tháng 5, sát với công suất phát điện tối đa, theo số liệu của Chính phủ.

Theo Ngân hàng Thế giới, Việt Nam cần đầu tư 150 tỉ USD cho ngành điện tới năm 2030, gấp gần 2 lần mức đầu tư kể từ năm 2010 là 80 tỉ USD.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn e dè chuyện "nhảy" vào thị trường năng lượng tái tạo. Hồi tháng 4, Siemens, một trong những nhà sản xuất tuabin điện chạy bằng khí lớn nhất thế giới, từng ký biên bản ghi nhớ với chính phủ về việc hợp tác trong tương lai. Ông Gregor Frank, Phó Chủ tịch của Siemens, cho biết công ty đang ở trong giai đoạn nghiên cứu bước đầu và đang huy động vốn cổ phần hoặc vay nợ để xây dựng các dự án điện lớn.

Một trong những thỏa thuận lớn khác mà ngành năng lượng có được gần đây là khoản vay 2 tỉ USD từ Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản dành cho dự án xây dựng một nhà máy điện than.

Trong bối cảnh đó, ông Sabyasachi Mishra, Trưởng phòng kinh doanh khoáng vật tại Tata International, dự đoán nhập khẩu than hàng năm của Việt Nam sẽ tăng từ 20 triệu tấn lên 30 triệu tấn trong một hoặc vài năm tới, đặc biệt là khi dự trữ than trong nước có xu hướng giảm.

Trong 4 tháng đầu năm nay, nhập khẩu vật liệu này gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 13,34 triệu tấn, theo số liệu của Tổng cục Hải quan.

“Việt Nam là một nước có ngành than phát triển rất mạnh nên nhu cầu than rất lớn”, ông Markey của công ty Sierra Vista nói. Theo dự đoán của ông, con số này sẽ đạt đỉnh là 80 - 110 triệu tấn trong khoảng năm 2030 - 2040, từ mức hiện tại là 63 triệu tấn.

Với nhu cầu tăng mạnh như vậy, Việt Nam sẽ trở thành một trong những thị trường cuối cùng ghi nhận sự bùng nổ của ngành than, một ngành năng lượng đang tới giai đoạn “xế chiều” tại nhiều quốc gia khác.