Với mục tiêu tăng trưởng GDP của Việt Nam là 6,8%, EVN dự báo sản lượng điện sản xuất và mua ngoài toàn hệ thống năm 2020 phải đạt 265,4 tỉ kWh, tăng 9,1% so với năm 2019. Trong khi đó, nguồn cung mới năm 2020 tăng không đáng kể, chủ yếu được bổ sung từ nguồn năng lượng tái tạo (NLTT), tuy nhiên số giờ vận hành không cao. Các hồ thủy điện không tích được nước đạt mực nước dâng bình thường (MNDBT) từ cuối 2019. Cùng với đó, dự báo nước về hồ chứa 6 tháng đầu năm 2020 kém hơn trung bình nhiều năm.

Ca trực Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình

Trước những thách thức đó, EVN đã và sẽ triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp. EVN liên tục tính toán cân bằng cung cầu sản lượng điện năm 2020, huy động tối đa các nguồn nhiệt điện than, khí, kể cả các nguồn điện chạy dầu giá cao, nỗ lực tích nước các hồ thủy điện đạt mức cao nhất vào cuối năm 2019. EVN chủ động phối hợp với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tổng công ty Khí Việt Nam - CTCP (PV GAS), có các giải pháp cấp khí cho khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ ở mức cao nhất có thể, đặc biệt là trong giai đoạn cao điểm mùa khô. EVN cũng chỉ đạo các doanh nghiệp khẩn trương, tập trung mọi nguồn lực, hoàn thành các dự án lưới điện phục vụ giải tỏa công suất của các nguồn NLTT, thủy điện nhỏ.

Tuy nhiên, theo ông Ngô Sơn Hải, giải pháp mang tính quyết định, bảo đảm điện cho năm 2020 sẽ là huy động cao các tổ máy của các nhà máy nhiệt điện than. EVN đã phối hợp với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng công ty Đông Bắc thống nhất các hợp đồng mua than năm 2020, các hợp đồng dài hạn, bảo đảm đủ than cho phát điện. Đồng thời, EVN chỉ đạo các doanh nghiệp chủ động tìm kiếm nguồn than và nhập khẩu than bổ sung cho các nhà máy điện.

Cùng với đó, EVN đã tổ chức kiểm tra một loạt các nhà máy nhiệt điện than của EVN, chỉ đạo các doanh nghiệp chuẩn bị đầy đủ vật tư, thiết bị, nhiên liệu và tăng cường giám sát, rút ngắn thời gian sửa chữa… để năm 2020 có thể huy động ở mức cao hơn so với thiết kế, hơn 7.000 giờ/năm/nhà máy.

Theo ông Phạm Đình Quang, Phó giám đốc Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 4, để đạt được kế hoạch sản xuất (hơn 12 tỉ kWh điện năm 2020 gồm Vĩnh Tân 4 và Vĩnh Tân 4 mở rộng), nhà máy sẽ tập trung sửa chữa và nâng cấp thiết bị trong thời gian trung tu các tổ máy cuối năm 2019 và đầu năm 2020, nâng cao năng lực bốc dỡ than tại các cảng, bảo đảm đủ than vận hành cho 3 tổ máy, chuẩn bị vật tư dự phòng sẵn sàng thay thế khi có hư hỏng đột xuất; theo dõi sát sao tình trạng vận hành của thiết bị, từ đó, đánh giá chính xác hiện trạng thiết bị, từng bước hoàn thiện kế hoạch sửa chữa, bảo dưỡng và thực hiện nghiêm túc kế hoạch vận hành.

Đối với Công ty Nhiệt điện Nghi Sơn, Giám đốc Võ Mạnh Hà cho biết, bên cạnh việc chuẩn bị sẵn sàng nguồn nhiên liệu, công ty đã hoàn thành lắp đặt thử nghiệm hệ thống giám sát rung đảo cho các thiết bị quay quan trọng như: Turbine - máy phát, bơm cấp, bơm ngưng, bơm tuần hoàn, quạt gió để thu thập dữ liệu online và đánh giá tình trạng thiết bị, đưa ra kế hoạch sửa chữa bảo dưỡng phù hợp, đảm bảo vận hành đạt từ 7.000 giờ trở lên trong năm 2020.