Đảm bảo đúng quy trình xả lũ của các dự án thủy điện

Về vấn đề lũ lụt nghiêm trọng ở miền Trung thời gian qua, liên quan đến việc điều tiết lũ của các dự án thủy điện, ông Tô Xuân Bảo - Phó Cục trưởng Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp - cho biết, trong phạm vi quản lý của Bộ Công Thương, thời gian qua, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã chỉ đạo quyết liệt việc đảm bảo an toàn hồ chứa.

Thực hiện Nghị quyết 62/2013/QH13 của Quốc hội về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện và Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 62 của Quốc hội về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy, Bộ Công Thương đã ban hành một loạt văn bản tập trung vào vấn đề đánh giá, và yêu cầu các chủ đầu tư đảm bảo các vấn đề về an toàn hồ chứa.

"Đối với việc thực hiện Nghị định 114 về đảm bảo an toàn hồ chứa, thời gian vừa qua, qua việc kiểm tra, cũng như qua việc Bộ Công Thương yêu cầu các Sở Công Thương trên địa bàn tổ chức các đoàn kiểm tra liên ngành, các báo cáo cho thấy, các hồ thủy điện đang vận hành trong phạm vi cả nước đều đảm bảo an toàn theo quy định” - ông Bảo nêu rõ.

Liên quan đến vấn đề xả lũ, Bộ Công Thương cũng đã chỉ đạo các thủy điện có chức năng tham gia hoạt động điều tiết lũ. Ở Việt Nam hiện có 11 hồ chứa có chức năng điều tiết lũ. Các hồ chứa này sẽ có trách nhiệm phải duy trì lượng nước nhất định để đảm bảo phòng lũ.

Khi có lũ, các thủy điện phải báo cáo Ban chỉ huy phòng chống thiên tai của tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh để xin phép lệnh điều hành xả lũ nhằm duy trì mực nước đón lũ. Từ đó, nếu lũ về sẽ làm chậm, giảm lượng nước về phía hạ du.

Đồng thời, khi xả lũ, các hồ thủy điện đều phải có cảnh báo cho các khu dân cư ở hạ du, phối hợp chặt với chính quyền địa phương trong việc thông báo để hạn chế tối đa thiệt hại cho người dân. Riêng các thủy điện nhỏ thường không có dung tích phòng lũ nên khi lũ từ thượng nguồn về, lũ sẽ tràn qua đập tràn về phía hạ du.

“Trong các đợt lũ, Bộ trưởng Bộ Công Thương đều ban hành công điện chỉ đạo điều hành các hồ chứa triển khai các giải pháp ứng phó mùa lũ, vận hành đúng quy trình được phê duyệt, đảm bảo an toàn hạ du. Ban chỉ huy phòng chống thiên tai của Bộ Công Thương hàng ngày cũng kết nối với cơ sở dữ liệu các hồ chứa để thường xuyên theo dõi nguồn nước, mực nước về hồ nhằm có điều hành cụ thể và báo cáo thông tin kịp thời cho Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai” - ông Bảo cho biết.

Đợt mưa 10 ngày vừa qua, khu vực miền Trung đã chịu ảnh hưởng lớn của bão, gây ra đợt mưa rất lớn. Qua theo dõi, từ ngày 5 đến 12/10, tổng lượng mưa ở Hà Tĩnh và Bình Định, có nơi đạt 500mm; Quảng Bình có nơi đạt 1.200mm; Quảng Trị có nơi 1.800mm; Đà Nẵng 1.200mm; Quảng Nam 1.400; Thừa Thiên Huế có nơi đạt 2.000mm.

Theo thống kê cả mùa mưa ở Huế, lượng nước đạt 2.009 - 2.127mm, tức là chỉ trong 1 tuần, lượng mưa xấp xỉ bằng cả mùa mưa, gây ra ngập lụt nhiều vùng miền Trung, ảnh hưởng lớn về người tài sản. Đây là điều xảy ra ngoài mong muốn.

Trong khi đó, khu vực miền Trung địa hình dốc, mỏng, không có nhiều hồ lớn như khu vực phía Bắc mà chủ yếu là các thủy điện nhỏ, không có hồ điều tiết lũ nên khi nước về tràn tự do. Một số hồ lớn như Sông Tranh, Quảng Trị, Bình Điền, A Vương… đều có dung tích phòng lũ như hồ Quảng Trị 30 triệu m3; hồ Bình Điền 150 triệu m3. Thời điểm này, các hồ này đều phải duy trì một lượng nước nhất định để đề phòng chống lũ thượng nguồn về, kịp thời giải cứu hạ du.

Tuy nhiên thời gian vừa rồi, do mưa lớn, Ban chỉ huy phòng chống lụt bão các địa phương đã chỉ đạo các hồ chứa vừa xả nước, vừa đảm bảo lượng nước thích hợp để đón lũ. Quá trình xả nước này cũng ảnh hưởng ít nhiều đến việc khắc phục hậu quả của nhân dân vùng hạ du khi mưa gây ra.

Ông Bảo cũng khẳng định, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành địa phương để chỉ đạo, rà soát các vấn đề, nhất là ứng phó thiên tai, lường trước các tình huống có thể xảy ra. Bên cạnh đó, tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu về hồ chứa, một công cụ giám sát các hồ từ xa để giám sát chặt quá trình vận hành, đảm bảo vận hành an toàn hồ chứa.

Từ năm 2016, không có dự án thủy điện chiếm rừng tự nhiên

Ông Đỗ Đức Quân - Phó Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo - bổ sung thêm, về quy hoạch, thời gian qua, thực hiện Nghị quyết 62/2013/QH13 của Quốc hội về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện và Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 62 của Quốc hội về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện, Bộ Công Thương đã cùng các tỉnh, địa phương rà soát hàng loạt dự án ảnh hưởng đến môi trường, ảnh hưởng nhiều đến xã hội và rừng.

Theo đó, kể từ năm 2016 đến nay, sau khi có Chỉ thị 13 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng và các chương trình Chính phủ, tất cả các dự án thủy điện nhỏ liên quan đến rừng tự nhiên đều không được bổ sung quy hoạch.

Bên cạnh đó, tất cả các dự án được bổ sung đều được kiểm tra rất kỹ các vấn đề liên quan đến rừng, đất. Trước đây nếu như mỗi MW điện chiếm 4-5 ha đất thì từ năm 2016 đến nay, không có dự án thủy điện nào chiếm đất rừng tự nhiên. Còn các dự án rừng trồng, các dự án thủy điện chỉ chiếm bình quân 2 ha/MW điện. 

“Các nhà đầu tư, các địa phương sau khi có chỉ đạo đã nhận thức tốt, từ đó hạn chế tối đa diện tích đất rừng sử dụng. Bộ Công Thương cũng chỉ đạo các địa phương từ năm 2017 đến nay không có dự án điện nào dưới 3 MW được bổ sung quy hoạch” - ông Đỗ Đức Quân nêu rõ.

Trước đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có cảnh báo các dự án thủy điện có thể gây ra các tác động như bồi lắng, cản trở dòng chảy thì phải xem xét trước khi quy hoạch. Riêng ở Thừa Thiên Huế có rủi ro lớn về chất đất. Bên cạnh đó, ở đây có lượng mưa lớn nhất cả nước. Do vậy, khi mưa lớn xảy ra, cùng các rủi ro về chất đất nên đã gây ra tai nạn nghiêm trọng về rừng.

Khi xảy ra sự cố, Bộ Công Thương đã kịp thời cử cán bộ trực tiếp vào hiện trường, nhanh chóng báo cáo các thông tin dự án, thông tin hiện trường từ dự án; đồng thời báo cáo Chính phủ để có sự chỉ đạo điều hành và xử lý kịp thời, nhanh nhất.